Tại Đền tưởng niệm Trường An
(xã Đại Nghĩa, Đại Lộc) có dựng bia vinh danh cụ Nguyễn Hữu Quân, người được vua
Tự Đức có tờ chế tưởng thưởng, gia tặng là Phụng thành Đại phu, Hàn lâm viện
Thị giảng.
![]() |
Tờ chế của vua Tự Đức ban cho cụ Nguyễn Hữu Quân |
Theo dấu sắc phong
Trong những ngày tháng 5 biển Đông
dậy sóng, tôi được anh bạn thân – bác sĩ Nguyễn Hữu Trâm Em cho biết vị Cao
tằng tổ của anh – cụ Nguyễn Hữu Quân (còn gọi là Nguyễn Hữu Duân) tử trận khi
đánh giặc Tàu Ô (tức bọn cướp biển người nước Thanh – Trung Quốc), được vua ban
khen về tấm lòng trung nghĩa.
Theo chân anh, tôi đến nhà ông
Nguyễn Hữu Bích để được xem sắc phong. Điều đập vào mắt khiến tôi có phần sửng
sốt là nội dung hoành phi và liễn đối trên khám thờ. Ở giữa là hai chữ Quốc
Sủng (Đất nước quý mến, trọng vọng). Dọc hai bên là đôi liễn: Vi thiện kỳ hữu
hậu/ Thừa hựu vĩnh vô cương (Làm việc thiện, ấy là có no ấm/ Theo điều lành,
mãi không giới hạn). Bên trên là hoành phi bốn chữ Sơn hà chính khí (Khí chất
ngay thẳng, uy thiêng của núi sông). Rõ là, chỉ người có công nghiệp, thể hiện
được khí chất uy hùng của non sông, được đất nước tri ân dưới thời phong kiến
mới có được một khám thờ sơn son với những chữ Hán thếp vàng trang nghiêm đến
vậy.
Theo nội dung sắc phong và tờ chế
của vua Tự Đức hiện còn lưu giữ tại gia đình và với sự khảo cứu tư liệu của ông
Nguyễn Hữu Hoằng – người anh đầu của ông Nguyễn Hữu Bích, cùng với tra cứu từ
sách Đại Nam thực lục của Quốc sử quán triều Nguyễn và Châu bản triều Tự Đức
thì cụ Nguyễn Hữu Quân sinh năm 1836, có tên tự là Trúc Hiên, người thôn Phúc
An, tổng Phú Mỹ, huyện Duy Xuyên, phủ Điện Bàn, nay là thôn Phước Yên, xã Đại
An, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Cụ đỗ cử nhân khoa Đinh Mão trường Thừa
Thiên vào năm Tự Đức thứ 20 (1867), năm sau thi Hội tuy bài có dự vào phân số
điểm nhưng không đủ để trúng cách. Theo đề tấu của Bộ Lại, vua Tự Đức chuẩn ông
vào ngạch huấn đạo, bổ đi nhậm chức Giáo thụ (như chức Trưởng phòng giáo dục
hiện nay) ở phủ Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Sau lại đổi đi làm Giáo thụ phủ
Nam Sách tỉnh Hải Dương, đồng thời giữ chức quyền Nhiếp phủ vụ (tức kiêm luôn
các công việc của phủ này. Có lẽ bấy giờ Nam Sách đang khuyết chức Tri phủ).
Khí tiết nhà Nho
Thời Tự Đức, đất nước phải đối mặt
với nhiều loại giặc. Quân Pháp nổ súng xâm lược, mở rộng địa bàn chiếm đóng ra
khắp nơi, hết trong Nam đến ngoài Bắc; bọn tàn quân Thái Bình Thiên Quốc từ
Trung Quốc dạt sang các tỉnh biên giới nước ta biến tướng thành giặc phỉ Cờ
Vàng, Cờ Trắng, Cờ Đen, càn quấy từ Cao Bằng, Lạng Sơn đến tận Bắc Ninh; ở mặt
biển bọn giặc Tàu Ô được thể càng lộng hành đánh cướp, nhất là với hải phận các
tỉnh Quảng Yên, Hải Dương. Tổng đốc Hải Dương – Quảng Yên là Nguyễn Đình Tân
từng tâu về triều “tình hình bất phân thắng bại giữa quân Triều đình và bọn Tàu
Ô ở Hải Dương”. Thế mà suốt 10 năm trời vẫn không triệt thoái được chúng. Táo
tợn hơn, có khi bọn Tàu Ô còn tràn lên bờ đánh bức phủ thành. Nguy cấp đến mức
vua Tự Đức phải xuống chỉ dụ khiển trách các quan đại thần phụ trách quân đội ở
các tỉnh bất tài, hèn nhát không trị được bọn phỉ, để chúng ngày càng lan tràn
khắp nơi và kêu gọi họ hãy hết lòng vì nước vì dân, cố gắng hơn nữa. Điều đó
cho thấy cụ Nguyễn Hữu Quân ra làm quan ở phủ Nam Sách khi nơi đây đang là điểm
nóng về an ninh biển.
Ngày 26 tháng Giêng năm Tự Đức thứ
25 (1872), bọn Tàu Ô đông đến 1.300 tên đi trên 90 chiếc thuyền từ biển tiến
vào theo đường sông vây bức phủ thành Nam Sách, nhưng bấy giờ quân giữ phủ chỉ
có hơn 600 quân mà quá nửa là quân mộ dũng chứ không phải phiên chế cơ đội
chính quy. Cụ Nguyễn Hữu Quân đã chỉ huy đốc chiến một cách kiên cường, nhưng
vì tương quan lực lượng hết sức bất lợi nên cuối cùng phủ thành bị thất thủ.
Khi bị bắt, cụ Nguyễn Hữu Quân lớn tiếng mắng chửi bọn Tàu Ô nên bị chúng giết
chết. Cùng tuẫn nạn có người em của cụ tên là Nguyễn Văn Bốn. Về sự kiện này,
sách Đại Nam thực lục (đệ tứ kỷ) của Quốc sử quán triều Nguyễn viết: “Thuyền
giặc thuộc hạt Quảng Yên hiếp đánh phủ lỵ Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Nhiếp biện
phủ vụ là Nguyễn Hữu Quân, tác vi Phó lãnh binh là Hoàng Văn Trữ đem quân lên
thành chống giữ, đều bị giặc giết chết”.
Liền ngay khi giặc vừa rút khỏi phủ
thành, cai tổng Mạn Đê, huyện Thanh Lâm của phủ Nam Sách là Đặng Văn Lương liền
đưa tuần phiên cùng người nhà lần vào phủ tìm kiếm, đưa được thi hài của
cụ Nguyễn Hữu Quân đi an táng.
Mặc dù phủ thành thất thủ nhưng
triều đình vẫn thưởng phạt phân minh. Theo đó, các quản lý, cai đội, suất đội
trong khi chiến đấu hèn nhát bỏ chạy về tỉnh lỵ đều bị cách chức, tùy theo nặng
nhẹ để nghiêm phạt. Những ai ra sức chống đánh tử nạn đều được truy tặng
phẩm hàm và cấp tiền tuất. Riêng với cụ Nguyễn Hữu Quân, vua Tự Đức có tờ chế
tưởng thưởng, truy tặng thực thụ chức Giáo thụ và gia tặng là Phụng thành Đại
phu, Hàn lâm viện Thị giảng; thụy là Đoan Thận.
Nhận được hung tin, gia đình cụ
Nguyễn Hữu Quân liền ủy cho người học trò của cụ là bá hộ Nhã đi trước ra phủ
Nam Sách tìm phần mộ của cụ và đặt vấn đề cải táng về quê, nhưng cai tổng Lương
và dân làng muốn xin để cụ ở lại một thời gian. Sau này cụ bà Phan Thị Tú (vợ
cụ Nguyễn Hữu Quân) lặn lội ra tận Hải Dương đưa hài cốt cụ về. Khi linh cữu cụ
Nguyễn Hữu Quân về đến Huế, các quan Bộ Binh và Bộ Lễ tổ chức đưa vào trước
Trung Nghĩa Từ để thắp hương và phối thờ cụ ở đấy. Sau đó linh cữu được đưa về
an táng tại quê nhà. Người con trai của cụ là Nguyễn Hữu Đệ lúc đến tuổi trưởng
thành, được triều đình Thành Thái sắc phong tập ấm.
PGS-TS NGÔ VĂN MINH
(Theo baoquangnam.com.vn)
Anh đã nhận được và copy từ báo Quảng Nam qua tin nhắn Tr E.Bài viết tổng hợp được tất cả các tư liệu đã có, trình bày ngắn gọn, đầy đủ gia thế, sự ghi nhận công lao của ông Tổ chúng ta của thời trước và hiện tại một cách gần gũi, mạch lạc, khơi gợi được tình cảm, sự tự hào của con cháu hiện nay nhất là Nguyễn Hữu chúng ta.
Trả lờiXóaRất cám ơn anh Minh đã rất nhiệt tình trong việc đưa tin ông Tổ Nguyễn Hữu Quân để mọi người, xã hội biết và ghi nhận công trạng của ông.
Trả lờiXóa