Thứ Ba, 20 tháng 10, 2015

    CỬ NHÂN NGUYỄN HỮU QUÂN VÀ TRẬN CHIẾN ĐẤU CHỐNG GIẶC TÀU Ô Ở NAM SÁCH

    Trong khoảng vài chục năm, kể từ năm 1868 vào nửa cuối thế kỷ thứ 19, ngoài việc đương đầu với hoạ xâm lăng của đế quốc thực dân Pháp từ phương Tây sang, nhân dân các tỉnh miền Bắc còn phải đối phó với bọn giặc Cờ Đen, Cờ Trắng, Cờ Vàng vốn là dư đảng của Thái Bình thiên quốc ở Trung Quốc tràn qua biên giới cướp phá dân ta và đánh lẫn nhau ở mạn Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Cao Bằng… và cả bọn giặc Tàu Ô ở mặt biển vào cướp phá ở mạn Quảng Yên, Hải Dương…

    Nói riêng về bọn giặc biển Tàu Ô, theo Đại Nam thực lục chính biên của Quốc sử quán triều Nguyễn, quan quân triều đình thời vua Tự Đức và quan quân địa phương đã nhiều lần ra công đánh dẹp, có một số trận đánh thắng, nhưng có nhiều trận chúng kéo vào rất đông, gây ra nhiều thiệt hại đối với quân dân ta.

    Đại Nam thực lục chính biên, quyển XL VII (trang 231, NXB Khoa học xã hội in năm 1975) có ghi một đoạn như sau:
    “Thuyền giặc thuộc hạt Quảng Yên (hơn 90 chiếc thuyền và bè lũ giặc 1300 người) hiếp đành phủ lỵ Nam Sách thuộc tỉnh Hải Dương. Nhiếp biện phủ vụ là Nguyễn Hữu Quân, tác vi Phó lãnh binh là Hoàng Văn Chữ đem quân lên thành chống giữ đều bị giặc giết chết. Quân được gia tặng hàm thị độc (1). Chữ được truy tặng Quản cơ, các quân bắt giặc được chiếu lệ truy tặng và cấp tiền tuất”.
    Cụ Nguyễn Hữu Quân, tên tự là Trúc Hiên, sinh năm Bính Thân (Minh Mạng năm thứ 17 – 1836) người thôn Trúc An, thường gọi là Phước Yên (2) tổng Phú Mỹ, huyện Duy Xuyên, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, nay là làng Phước Yên, xã Đại Hoà, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Thân sinh là Nguyễn Hữu Phước, một nhà nho nghèo, có lều chõng đi thi nhưng không đỗ, ở nhà dạy học trò và dạy con. Anh trai là Nguyễn Hữu Khát, sau lần đi thi Hương đều đỗ tú tài.

    Cụ Nguyễn Hữu Quân đỗ cử nhân khoa Đinh Mão tại trường Thừa Thiên năm Tự Đức thứ 20 (1867), năm sau dự khoa thi Hội, nhưng không đạt ở bài thi văn sách. Theo sự đề tấu của Bộ Lại, cụ Nguyễn Hữu Quân được vua Tự Đức phê chuẩn vào ngạch Huấn đạo và bổ đi làm Giáo thụ phủ Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, theo tờ Sắc dụ ngày 4 tháng 6 năm Tự Đức thứ 21 (1868). Thời gian sau đó, cụ về gia đình để thọ đại tang: khi mãn tang đổi lĩnh Giáo thụ phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương, giữ chức Nhiếp biện phủ vụ phủ Nam Sách (tức quyền Tri phủ).
    Cuộc chiến đấu quyết liệt để chống giữ phủ thành Nam Sách do cụ Nguyễn Hữu Quân chỉ huy diễn ra đêm 26 tháng Giêng năm Tự Đức thứ 25 (1872), đã kết thúc với sự thất thủ phủ thành và sự tuẫn tiết hy sinh vô cùng dũng cảm của một nhà nho khi cần cũng biết cầm gươm chống giặc.
    Theo tờ tấu của Bộ Binh với triều đình về việc thất thủ phủ Nam Sách và xin vua chuẩn y sự quyết định xử lý của Bộ trong việc này (tờ tấu đề ngày 25 tháng 7 năm Tự Đức thứ 25), có những đoạn như sau:

    “… Trong tháng 2 và tháng 5 năm đó, bầy tôi của tỉnh Hải Dương là Lê Hữu Thường và thị sự Lê Tuấn đã dâng tờ khai tình hình thất thủ phủ thành Nam Sách. Hôm đó là ngày 26 tháng Giêng, bọn giặc đưa hơn 90 chiến thuyền vào giang phận của phủ này rồi tiến lên công phá phủ thành. Quân giặc có hơn 1.300 tên, mà quân giữ phủ chỉ có hơn 600, trong đó quá nửa là quân mộ dũng chứ không phải biên chế cơ đội chính quy. 
    Mặc dù có sự chống cự quyết liệt, nhưng cũng không giữ nổi phủ thành, bị giết 14, bị thương 13, tan tác thất lạc 115. Khí giới bị mất: 3 súng tích sơn, 5 súng quá sơn, 4 đại bác, 4 thần công, 2 thảo nghịch tướng quân, 38 súng trường bắc-cơ-ô-sang, 3.360 viên đạn, 460 cân 9 lạng thuốc súng, 136 ống phun lửa. Về lương thực tiền bạc: 742 quan tiền thuế, thóc nghĩa lương 874 hộc, gạo thuế 998 phương, thóc thuế 492 hộc, muối 6 phương. Về văn thư hồ sơ luật lệ, địa bạ các xã 55 bản… đều bị bọn giặc cướp đốt sạch. Bọn ở trại tù cũng nhân thế mà bỏ trốn, tất cả 26 tên.

    Những người trong quân ngũ của tỉnh được phái về trú thủ phủ thành đó bị thua chạy thoát về tỉnh có 5 tên đều phải cách chức giao cho tỉnh so luật định đoạt…
    Còn như việc không thân sức kịp thời như tỉnh thần Lê Hữu Thường, phiên ty và niết ty tỉnh đó là Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Tạo thì  cần phải nghị tội. Nhưng xét ra các viên này theo hồ sơ cũ đã bị giáng 4 bậc lưu chức rồi, nay cũng nên xét lượng mà khoan miễn cho phần nào, song phải tâu xin ý chỉ rồi mới tuân hành (chỗ này được vua châu phê chuẩn cho).

    Còn Phó lãnh binh Hoàng Văn Chữ, các cai đội Dương Văn Hoài, Trần Đạt, Lê Cảnh Hàm, nguyên Giáo thụ phủ Nam Sách kiêm Nhiếp biện công vụ trong phủ là Nguyễn Hữu Quân đều là những người có trách nhiệm giữ thành: khi giặc công bức thành, bọn này đều xông mình lên trước ba quân, lên mặt thành chống đánh giặc cho đến khi thành mất, thân bị giặc giết. Như Nguyễn Hữu Quân là viên quan văn, thế mà cũng đề kiếm xông ra chiến đấu, bị giặc bắt được còn lớn tiếng mắng giặc cho đến khi bị chúng giết: em y là Nguyễn Văn Bốn cũng bị giặc giết chết (chỗ này được châu phê rằng: “chuẩn cho xét viên nào, là người tỉnh nào, xuất thân chức ngạch gì thì cho khâm theo thi hành”)…

    Còn như Nguyễn Hữu Quân, nguyên lĩnh chức Giáo thụ quyền Nhiếp biện công việc phủ Nam Sách thì xin truy tặng ngạch thực thụ và xin gia tặng chức của Hàn lâm viện (Chánh lục phẩm). (Chỗ này được vua châu phê là: “Gia tặng Hàn lâm viện thị giảng và ấm thụ cho một người có hàm tòng cửu phẩm, cùng chiếu lệ cấp tiền tuất)…
    Dám xin ý chỉ xét soi lời tâu bày của bầy tôi bản Bộ những ý kiến nghị bàn. Xin chép theo nguyên ý, bản Bộ lưu giữ một bản để làm lưu chiểu. Thần kính cẩn trình bày vâng dâng” (3).

    Sách Đại Nam liệt truyện (do NXB Thuận Hoá - Huế in năm 1997, tập 4 trang 421) cũng có ghi một đoạn như sau:

    “Nguyễn Hữu Quân, tự là Trúc Hiên, người huyện Duy  Xuyên, đỗ cử nhân khoa Đinh Mão năm Tự Đức thứ 20 (1867), thi Hội được dự phân số điểm. Bắt đầu bổ Huấn đạo lĩnh Giáo thụ Quảng Trạch. Có đại tang về nghỉ việc, khi mãn tang đổi lĩnh Nam Sách. Năm thứ 25 (1872) làm thay việc phủ. Bấy giờ hơn 90 chiến thuyền phỉ và hơn 1.300 đồ đảng phỉ ở Quảng Yên áp đến đánh phủ thành. Quân cùng với lãnh bình Hoàng Văn Chữ lên thành chống cự, bị giặc giết chết, được gia tặng Thị giảng và cũng liệt thờ vào Trung nghĩa từ. Con là Nguyễn Hữu Đệ được ấm thụ Đãi chiếu”.

    Tin dữ về việc Cử nhân Nguyễn Hữu Quân tử trận ở Hải Dương được báo về rất sớm cho gia đình và quê nhà ở Quảng Nam. Phu nhân cụ Quân là Phan Thị Tú lúc bấy giờ là một thiếu phụ mới 32 tuổi.

    Thân gái dặm trường, nhờ sự giúp đỡ của các quan chức địa phương và các binh trạm trên dọc đường thiên lý, bà lặn lội ra Bắc. Đầu tháng 4 năm ấy, bà ra tới Nam Sách, Hải Dương. Viên cai tổng địa phương có làm tờ trình (ghi ngày 9 tháng 4 năm Tự Đức thứ 25) gửi cho bà, trích những đoạn chủ yếu như sau:
    “Tôi, Đặng Văn Lương, cai tổng tổng Mạn Đê, thuộc huyện Thanh Lâm phủ Nam Sách, kính trình với bà chính thất của quan Tri phủ phủ Nam Sách xét rõ cho việc sau đây:

    Nguyên ngày 26 tháng Giêng năm nay, phủ này bị giặc bể vào công phá cướp phủ thành. Tôn ông là quan Tri phủ chống nhau với giặc bị chết tại trận. Di hài nằm tại trong phủ. Nay tôi nghĩ là: Người vì con dân mà hết lòng, vì nhiệm vụ mà xông pha, bị như vậy rất là thương xót. Cho nên đến nửa đêm ngày 26, tôi đem anh em tuần phiên và người nhà lần vào phủ tìm kiến thì quả nhiên thấy di hài của Người, bèn đem về địa phận xã tôi. Nhưng ngặt vì lúc đó… khó mua kiếm được quan quách sơn son, cho nên đành tạm quyền biến kiến vải thô ván xấu để mai táng Người, nhưng cũng làm đủ thủ tục lễ mai táng chung. Đầu ngày hôm sau lại đem di hài người nhà của Người tên là Bốn cũng bị chết trong phủ về chôn cất và đều đắp nấm vun mồ đánh dấu cẩn thận rõ ràng, và có làm biên bản gửi bẩm lên tỉnh hẳn hoi…

    Tôi nghĩ rằng: “ai là không có tấm lòng báo đáp nghĩa ơn, nhưng quan sơn muôn dặm trở ngại xa xôi. Nay tôi khẩn thiết xin rằng: Người là người đi ngàn dặm để chăn dân, dân cũng phải coi Người là vị tôn thân kính trọng. Xin để Người được yên nghỉ tại nơi đây trong hai ba năm, cho dân ở đây được giữ gìn cẩn thận không ngại điều chi. Đợi sau đó sạch sẽ, sẽ đón hài cốt của Người về nơi nguyên quán, thì lòng dân chúng tôi mới được yên vây!”  (4).
    Không có những văn bản ghi lại công tích của Cử nhân Nguyễn Hữu Quân, quyền Tri phủ Nam Sách đối với dân địa phương trong thời gian ông trị nhậm ở đây, song qua lời lẽ của viên Cai tổng Đặng Văn Lương cũng thấy được tình cảm của dân địa phương đối với vị quan Giáo thụ quyền Tri phủ thật là thắm thiết!
    Nhờ sự giúp đỡ của các quan chức tỉnh Hải Dương và của địa phương, bà Phan Thị Tú quyết định đưa hài cốt của cụ Nguyễn Hữu Quân và của người nhà là Nguyễn Văn Bốn theo đường thuỷ vượt sông biển vào cửa Thuận An về Huế trước khi đi tiếp qua đèo Hải Vân đưa về mai táng tại quê nhà ở Quảng Nam (5).

    Tại Huế, các quan chức của Bộ Binh và Bộ Lễ cùng bà đưa linh cữu của ông vào trước Trung nghĩa từ để thắp hương và lập thần vị phối thờ ông ở đấy.
    Trong văn bản trên không ghi cụ thể cụ bị giặc giết như thế nào. Nhưng cụ bà Phan Thị Tú trong những ngày ở Nam Sách đã nghe được viên Cai tổng Đặng Văn Lương nói lại là khi khâm liệm thi hài quan phủ mới biết là “Quan phủ bị giặc cắt lưỡi chết!”. Như vậy, cụ “bị giặc cắt lưỡi chết” vì đã “lớn tiếng mắng giặc”!

    Ngày 25 tháng 7 năm Tự Đức thứ 25 (1872), vua Tự Đức ban tờ Chế để tưởng thưởng công lao và truy tặng cử nhân Nguyễn Hữu Quân, đánh giá như sau:
    “Cái khí tiết của người chí sĩ, lúc lâm nguy dù chết chẳng đổi dời; sự biểu dương khen ngợi của triều đình là còn để khuyến khích cho tương lai mãi mãi. Ngày lành hợp ý, ngỏ lòng thương xót công lao. Ôi! Nhà ngươi là chức Giáo thụ, lại nhiếp biện các công vụ của phủ Nam Sách là Nguyễn Hữu Quân đã quá cố! Ngươi sớm dự vào hàng nho khoa, được ra làm việc nơi quận huyện. Biết đem chính sự thi hành, khi được nhận lệnh ngoài ngàn dặm, không trễ nải việc quan, biết hết sức mình trong những ngày trách nhiệm. Bỗng vì giặc quấy mạn đông, một mình phấn đấu chí diệt thù, song thành cô đơn khó chống giữ nên bỏ nhẹ tấm thân vì nước. Đã hết sức trong phần trách nhiệm, lại dốc lòng khi gặp nguy nan. Lòng trung đó đáng khen, mà sự khen nên thật xứng đáng!”.
    __________________
    1. Chỗ này sách ĐNTLCB ghi nhầm. Đúng ra là Hàn lâm viện thị giảng.
    2. Làng Phúc An vì trùng tên với làng Phúc An, thủ phủ chúa Nguyễn thời Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1935) cách Huế 10km về phía Bắc, nên trong các văn bản hành chính, chữ Phúc bị buộc phải viết lại thành chữ Phú. Nhưng nhân dân vẫn quen gọi là Phước Yên.
    3. Các văn bản này con cháu họ Nguyễn Hữu ở Phước Yên còn giữ. Các bản dịch nghĩa ra quốc âm là do Viện Hán Nôm dịch giúp từ năm 1980.
    4. Như chú thích số 3.
    5. Hiện nay mộ phần hai ông bà Nguyễn Hữu Quân và hai ông bà Nguyễn Hựu Đệ nằm tại nghĩa trang xã Đại Hoà, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Tại đền tưởng niệm Trường An của huyện Đại Lộc và nhà tưởng miện của xã Đại Hoà đều có dựng bia tôn vinh danh nhân địa phương Nguyễn Hữu Quân.

    Nguyễn Hữu Hoằng


    Nguồn: Xưa & Nay, số 251-252, 1/2006   

    Không có nhận xét nào:

    Đăng nhận xét