Thứ Năm, 16 tháng 10, 2014

    SƠ CỨU RẮN ĐỘC CẮN

    Sơ cứu rắn độc cắn:
             Sau khi bị rắn độc cắn cần sơ cứu ngay, tiến hành trước khi vận chuyển bệnh nhân đến bệnh viện. Có thể người khác giúp đỡ hoặc do bản thân bệnh nhân tự làm.
             Mục tiêu của sơ cứu:
           - Làm cho nọc độc của rắn từ vết cắn xâm nhập vào trong cơ thể chậm hơn và ít hơn, nhờ đó nạn nhân có đủ thời gian để kịp được vận chuyển đến cơ sở y tế khi chưa có biểu hiện ngộ độc.
           - Bảo vệ tính mạng của bệnh nhân, chữa các triệu chứng nguy hiểm xuất hiện sớm và ngăn chặn các biến chứng trước khi bệnh nhân đến được cơ sở y tế.
           - Vận chuyển bệnh nhân một cách nhanh nhất, an toàn nhất đến cơ sở y tế có điều kiện điều trị thực sự (ví dụ cấp cứu hô hấp, tim mạch tốt hoặc có huyết thanh kháng nọc rắn đặc hiệu).
            - Mục tiêu trên hết: không làm gì có hại thêm cho bệnh nhân !
        Các bước sơ cứu nên làm là:
            - Động viên bệnh nhân yên tâm, đỡ lo lắng.
            - Không để bệnh nhân tự đi lại. Bất động chân, tay bị cắn bằng nẹp (vì vận động làm cho nọc độc xâm nhập vào trong cơ thể nhanh hơn). Cởi bỏ đồ trang sức ở chân, tay bị cắn vì có thể gây chèn ép khi vùng đó bị sưng nề.
            - Áp dụng biện pháp băng ép bất động với một số loại rắn hổ (rắn cạp nong, cạp nia, hổ mang chúa, rắn biển và một số giống rắn hổ mang thường): băng ép bất động để làm chậm sự xuất hiện triệu chứng liệt. Không băng ép khi rắn lục cắn vì có thể làm vết thương nặng thêm.
           - Vận chuyển bệnh nhân bằng phương tiện đến cơ sở y tế đồng thời duy trì băng ép, bất động. Nếu bệnh nhân khó thở thì hô hấp nhân tạo (hà hơi thổi ngạt hoặc bằng phương tiện y tế có tại chỗ như bóp bóng, máy thở xách tay,..).
              Kỹ thuật băng ép bất động:
              - Dùng băng rộng khoảng 10 cm, nếu có điều kiện dài ít nhất khoảng 4,5 m. Có thể băng chun giãn, băng vải, hoặc tự tạo từ khăn, quần áo. Không cố cởi quần áo vì dễ làm chân, tay phải vận động, có thể băng đè lên quần áo.
             - Băng tương đối chặt nhưng không quá mức (đủ để luồn một ngón tay giữa các nếp băng, còn sờ thấy mạch máu đập).
              - Bắt đầu băng từ ngón chân, tay đến hết toàn bộ chân, tay bị cắn.
              - Dùng nẹp cứng (nẹp, miếng gỗ, que, miếng bìa cứng,...) cố định chân, tay với nẹp.
              - Vết cắn ở bàn tay, ngón tay, cẳng tay:
              - Băng ép bàn tay, cẳng tay.
              - Dùng nẹp cố định cẳng tay và bàn tay.
              - Dùng khăn hoặc dây treo quàng lên cổ bệnh nhân.
              - Duy trì băng ép bất động tới khi bệnh nhân đến được cơ sở y tế có khả năng cấp cứu hồi sức hoặc huyết thanh kháng nọc rắn đặc hiệu (bác sỹ là người quyết định tháo băng ép hay không).
              - Vết cắn ở thân mình: ép lên vùng bị cắn nhưng không làm hạn chế cử động ngực nạn nhân.
              - Vết cắn ở vùng đầu, mặt, cổ: khẩn cấp vận chuyển bệnh nhân đến bệnh viện.
              Không sử dụng các biện pháp sau:
    Garô: Garô tức là làm tắc nghẽn hoàn toàn động mạch (mạch máu vận chuyển máu từ tim đi nuôi dưỡng các bộ phận của cơ thể), gây đau, rất nguy hiểm và không thể duy trì lâu (không quá 40 phút), chân tay rất dễ bị thiếu máu nguy hiểm. Nhiều trường hợp sau đó phải cắt cụt chân tay vì garô.
    Trích, rạch, trâm, chọc tại vùng vết cắn:
    Các nghiên cứu khoa học trên thế giới cho thấy các biện pháp này không có lợi ích, rõ ràng gây hại thêm cho bệnh nhân (tổn thương thêm mạch máu, dây thần kinh,... nhiễm trùng nặng thêm)
    Hút nọc độc:
    Không có lợi ích. Các nhà sản xuất thiết bị hút đặc biệt ủng hộ việc dùng các sản phẩm của họ nhưng không đáng tin cậy. Các thiết bị hút này không có hiệu quả và thậm chí còn làm vết thương nặng thêm.
    Gây điện giật: Chưa bao giờ được chứng minh có lợi ích. Có thể gây hại thêm cho bệnh nhân. Gây điện giật trong sơ cứu rắn cắn mặc dù được các nhà sản xuất thiết bị này ủng hộ nhưng sự thật cũng không đem lại lợi ích.
    Chườm đá (chườm lạnh) Đã được chứng minh rõ ràng có thể gây hại. Sử dụng các loại thuốc dân gian, cổ truyền, chữa bằng mẹo: Không có ích lợi, nếu đắp tại vết cắn dễ gây nhiễm trùng thêm, khi uống có thể gây hại cho nạn nhân. Nhiều thuốc y học dân tộc dùng dạng uống đặc biệt dễ gây nguy hiểm thêm cho nạn nhân: gây co giật (vì có chứa mã tiền) mặc dù không chữa được liệt, gây đau bụng, nôn, ỉa chảy rất nặng (sau đó là mất nước, mất muối, bị sốc) hoặc tắc ruột vì táo bón,... Sử dụng "hòn đá chữa rắn cắn" Không có tác dụng.
      Cố gắng bắt hoặc giết rắn Nếu rắn đã chết hoặc bắt được rắn phải đem cùng với bệnh nhân đến bệnh viện để nhận dạng. Tuy nhiên, ngay cả đầu rắn đã chết vẫn có thể cắn người, cần cẩn thận khi mang rắn. Người dân địa phương có thể rất tự tin về các biện pháp chữa trị truyền thống hoặc thuốc dân gian của họ nhưng họ không được phép làm chậm trễ việc sơ cứu và vận chuyển bệnh nhân hoặc làm hại thêm cho bệnh nhân. Đề phòng rắn cắn Mặc dù trong hai họ rắn thường gặp ở nước ta, rắn hổ có thể chủ động tấn công người nhưng trên thực tế, phần lớn các trường hợp bị rắn cắn là do con người chủ động bắt rắn hoặc trêu rắn (vô tình hoặc cố ý làm cho rắn cảm thấy bị đe doạ). Trong lao động để tránh được hoàn toàn không bị rắn cắn là rất khó. Các bạn có thể áp dụng các biện pháp sau để giúp giảm nguy cơ bị rắn cắn:
              - Biết về loại rắn trong vùng, biết khu vực rắn thích sống hoặc ẩn nấp. Biết về thời gian trong năm, trong ngày và kiểu thời tiết nào rắn thường hoạt động nhất.
              - Đặc biệt cảnh giác với rắn sau các cơn mưa, khi có lũ lụt, mùa màng thu hoạch và thời gian ban đêm.
              - Cố gắng đi ủng, dày cao cổ và quần dài, đặc biệt khi đi trong đêm tối, đội thêm mũ rộng vành nếu đi trong rừng hoặc đi ở khu vực nhiều cây cỏ.
              - Dùng đèn nếu ở trong bóng tối hoặc vào ban đêm.
            - Càng tránh xa rắn thì càng tốt: không biểu diễn rắn, không đe doạ rắn, không cầm, không trêu rắn ngay cả khi rắn đã chết. Đầu rắn đã chết vẫn có thể cắn người. Không bắt rắn, đuổi hoặc dồn ép rắn trong khu vực khép kín.
              - Không nằm ngủ trực tiếp trên nền đất.
              - Không để trẻ em chơi gần khu vực có rắn.
              - Không sống ở gần các nơi rắn thích cư trú hoặc thích đến như các đống gạch vụn, đống đỏ nát, đống rác, tổ mối, nơi nuôi các động vật của gia đình.
              - Thường xuyên kiểm tra nhà ở xem có rắn không, nếu có thể thì tránh các kiểu cấu trúc nhà tạo điều kiện thuận lợi cho rắn ở (như nhà mái tranh, tuờng xây bằng rơm, bùn với nhiều hang, hốc hoặc vết nứt, nền nhà nhiều vết nứt).
              - Để tránh bị rắn biển cắn, người dân chài không nên bắt rắn ở trong lưới hoặc dây câu. Có thể dễ nhầm lẫn khi phân biệt giữa đầu rắn và đuôi rắn. Những người tắm hoặc giặt ở các vùng nước đục ở cửa sông hoặc một số vùng bờ biển cũng có thể dễ bị rắn cắn.
    Các thông tin khác có thể có ích với các bạn.
    1. Rắn độc và rắn không độc:
              - Phân biệt rắn độc và rắn không độc nhiều khi rất khó. Tuy nhiên ở Việt Nam, chúng ta có thể nhận ra được một số loại rắn độc thường gặp dựa vào các đặc điểm đặc trưng bên ngoài của rắn: rắn hổ mang (khi chuẩn bị tấn công thì cổ bạnh, phát âm thanh đặc trưng), rắn cạp nong (thân mình "khúc vàng khúc đen"), rắn cạp nia (thân mình "khúc trắng khúc đen"), họ rắn lục (đầu to hình thoi hoặc tam giác).
    \         - Rắn độc có thường có hai răng độc lớn (còn gọi là móc độc) và thường ở vị trí răng cửa hàm trên, do đó khi cắn thường để lại vết cắn đặc trưng có thể giúp phân biệt rắn độc. Răng độc đóng vai trò như một kim tiêm dưới da hoặc tiêm vào bắp thịt (một số trường hợp hiếm gặp thì tiêm trực tiếp tĩnh mạch) dẫn nọc độc vào cơ thể nạn nhân. Một số loại rắn hổ mang mặc dù ở cách nạn nhân một khoảng cách vẫn có thể phun nọc độc về phía nạn nhân và gây tổn thương mắt, có thể từ đó gây nhiễm độc toàn thân.
    2. Nọc độc: Thành phần nọc độc: bao gồm rất nhiều chất độc khác nhau. Số lượng nọc độc được bơm khi bị cắn:
              - Số lượng nọc độc rất thay đổi, tuỳ thuộc nhiều yếu tố: loại rắn, kích cỡ con rắn, mức độ vết thương cơ học, một răng độc hay cả hai cùng xuyên qua da, số nhát cắn. Bản thân con rắn cũng có thể tự kiểm soát việc nọc độc có được tống ra khi cắn hay không. Có không ít các trường hợp bị rắn độc cắn mà số lượng nọc độc được bơm ít, không đủ gây ngộ độc (gọi là "vết cắn khô"). Ví dụ, có tới 30 % trường hợp rắn hổ mang cắn bệnh nhân không có biểu hiện ngộ độc. Tuy nhiên chúng ta cũng không nên chủ quan.
              - Tuy nhiên rắn độc không bao giờ hết nọc độc, kể cả sau khi đã cắn nhiều lần, rắn cũng không trở nên ít độc hơn sau khi ăn mồi.
    Nọc rắn xâm nhập vào cơ thể và gây ngộ độc như thế nào ?
              - Trong hầu hết các trường hợp nọc độc xâm nhập vào cơ thể theo con đường mạch bạch huyết (không phải mạch máu thông thường). Con đường vận chuyển nọc độc này sẽ trở nên nhanh hơn và nhiều hơn khi cơ thể vận động. Nếu nạn nhân, đặc biệt vùng cơ thể bị cắn không hạn chế vận động thì nọc sẽ xâm nhập nhanh hơn.
              - Nạn nhân sẽ nhanh chóng bị ngộ độc hơn, ngộ độc nặng hơn nếu: vết thương sâu, nhiều nọc độc, loại rắn độc hơn, cơ thể nhỏ bé, sức khoẻ của nạn nhân đang không tốt và đặc biệt nạn nhân vận động nhiều sau khi bị cắn.
              - Các triệu chứng thường xuất hiện sớm, nhanh chóng và gây nguy hiểm cho nạn nhân, dễ tử vong: biểu hiện về thần kinh (thường là liệt, trước tiên thường là mắt không thể mở to, đau họng, khó nuốt, nói khó, sau đó là khó thở), tim mạch (thường là loạn nhịp tim).
    Các loại rắn độc thường gặp ở nước ta:
    Họ rắn hổ:
              - Rắn hổ mang: rắn hổ mang thường, hổ mang chúa.
              - Rắn cạp nong, cạp nia.
              - Rắn biển.
             - Nguy hiểm thường là do gây liệt (gây khó thở), loạn nhịp tim, tổn thương các cơ, tổn thương vùng vết cắn lan rộng, suy thận.
    Họ rắn lục:
              - Rắn lục xanh, rắn choàm quạp.

             - Nguy hiểm thường do làm nạn nhân dễ bị chảy máu, tổn thương vùng vết cắn lan rộng, tổn thương cơ, suy thận.

    BÀI THƠ TẰNG TỔ PHỤ (Phiên âm nguyên tắc bằng chữ Hán)

    Ai hoài Tằng tổ phụ
    Thử địa bách niên tiền
    Trị nhâm nam sách phủ
    Thời trung đa truân chuyên
    Hứa phỉ tòng đông đáo
    Cửu thập dư chiến thuyền
    Tặc thế như cơ báo
    Tặc lực như cuồng viên
    Nho gia thủ nhất kiếm
    Cộng nhất phiếm trung kiên
    Tả xung hoà hữu đột
    Cô thành cố thủ nan
    Ha lỗ nhi tuẫn tiết!
    Ha lỗ nhi qui thiên!
    Hạ thuyền chính nguyệt dạ
    Tự Đức trấp ngũ niên
    “ Sơn hà chí khí
    Tương khả tác hồ cửu nguyên!”

    Tại Hải Dương tỉnh, Nam sách huyện
    Nhất Cửu thất nhị niên, ngũ nguyệt
    Tằng tôn
    Nguyễn Hữu Hoằng
    Khấu bái



    Dịch thơ
    Cụ cố của tôi
    Nhớ thương Tẳng tổ phụ
    Nơi này trước trăm năm
    Trị nhậm phủ Nam Sách
    Thời buổi nhiều gian truân
    Hải phỉ phía đông tới
    Hơn chín mươi chiến thuyền
    Thế giặc như beo đói
    Sức giặc như vượn điên
    Nhà nho một thanh kiếm
    Với tấm lòng trung kiên
    Dù tả xung hữu đột
    Cô thành khó giữ yên
    Mắng giặc mà tuẫn tiết!
    Chửi giặc mà qui thiên
    Tháng giêng đêm trăng khuyết
    Năm Tự đức hai lăm
    “ Mãi mãi nơi chín suối
    sông núi ngời khí thiêng”

    Tại huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương
    Tháng 5 năm 1972
    Chắt nội
    Nguyễn hữu Hoằng

    Bái lạy

    TỜ TÂU CỦA BỘ BINH VỚI TRIỀU ĐÌNH ( về việc thất thủ phủ Nam Sách và xin chuẩn y sự quyết định xử trí của Bộ)

    Ngày 25 tháng 7 năm Tự Đức thứ 25 (1872), Bộ binh cẩn tâu:
              Vào một ngày tháng 5 năm nay, bản Bộ tiếp được tờ tâu của bầy tôi tỉnh Hải Dương là Lê Hữu Thương tấu trình về việc đã xét rõ nguyên do việc phủ thành Phủ Nam Sách bị thất thủ và xin tra xét quyết định. Về việc này, ngày tháng 2 năm nay bản Bộ đã đem tờ khai tình hình thất thủ phủ thành đó của Lê Tuấn là thị sự của tỉnh đó về lý do và con số tổn thất, chết, bị thương bao nhiêu, có tỉnh xét rỏ để đặc tâu mong chỉ chuẩn y. Nay xét trong tập hồ sơ tâu lên ấy thì hôm đó là ngày 26 tháng giêng, bọn giặc đi bằng thuyền (số thuyền là hơn 90 chiếc) vào giang phận của phủ này rồi tiến lên công phá thủ thành; quân giặc có tới hơn 1.300 tên, mà quân giữ phủ, kể các loại binh dũng và phụ phái chỉ có hơn 600 quân (trong đó quân của tỉnh phái về hơn 400, quân mộ dũng phụ là hơn 200). Hiện có chống giữ quyết liệt, nhưng vì quân ta ít, quân địch nhiều nên không thể giữ nổi phải bị thất thủ phủ thành, bị chết 14; bị thương 13 (trong đó bị thương nặng 8 và nhẹ 5); tan tác thất lạc 115. Về khí giới bị mất: 3 súng Tích sơn, 5 súng quá sơn, 4 đại bác, 4 thần công, 2 thảo nghịch tướng quân, 5 thần công, 38 súng trường Bắc cơ ô sang, và các phụ tùng phụ kiện; 3360 viên đạn; 460 cân 9 lạng thuốc súng; 136 ống phun lửa. Về lương thực tiền bạc: Tiền nguyên dự trữ là 742 quan tiền thuế, thóc nghĩa lương 875 hộc, gạo thuế: 998 phương, thóc thuế 492 hộc, muối 6 phương. Về văn thư, hồ sơ, luật lệ: Các điều huấn thị và địa bạ của xã 55 bản. Tất cả đề bị cướp đi và đốt sạch. Bọn ở trại tù cũng nhân thế mà trốn (cả thẩy có: tù về quân lực 1 tên, tù đày 1 tên, tù thành án giam 1 tên, tù còn đương tra xét 25 tên gồm cả nam, nữ).
              Sự việc này, cứ theo như luật, lấy luật quân chính mà luận tội thì khó tránh khỉ tội. Song, xét trong trận này, quân ta chỉ vẻn vẹn có hơn 600 mà quá nửa là quân mộ dũng chứ không phải biên chế cơ đội chính quy. Về số quân giặc thì đông hơn gấp đôi. Mặc dù đã hết sức chống cự, thương vong nhiều, chứ không phải đem lòng chiến đấu cố thủ; nhưng vì sự chênh lệch về quân số quá lớn nên không thể địch lại được bọn giặc để đến nỗi thất thủ thành. Chứng minh việc này, còn có tờ khai của quan tỉnh đó về những người trong quân ngũ của tỉnh được phái về trú thủ phủ thành đó, trong khi chiến đấu bị thua chạy thoát  về tỉnh là: Vũ Văn Thiện là quyền xung hiệp quản lý vệ thứ 2 của Hứa Dương bị trọng thương; Trần Quang Cáp, Nguyễn Đăng Thảo là cai đội; Lương Khắc Hiển, Lê Bá là suất đội của vệ binh đó. Cả 5 tên này đều cách chức giao cho tỉnh so luật định đoạt. Còn các tên: Quyền suất đội cấp bằng đôi trưởng Nguyễn Văn Lãnh ở vệ thứ hai của Vũ sinh kinh kỳ, quyền suất đội Bùi Hữu Hoằng ở đội một cơ Linh Dũng, quyền suất đội Trần đình Thức ở đội sáu cơ Lâm Dũng; xét rằng bọn này chưa có bằng hàm thực thụ nên xin phạt mỗi tên 100 trượng đánh đau. Nguyễn Văn Lãnh thì tước bỏ hàm cấp bằng đội trưởng và đuổi xuống quân ngũ làm lính thường. Bùi Hữu Hoằng và Trần Đình Thức thì tước bỏ hàm quyền suất đội , đuổi về quê quán làm dân thường, chịu phu dịch. Việc phân xử chước lượng như vậy tưởng cũng là thoả đáng hợp lý. Duy có tên tự suất đội sáu cơ Tản Kiên là Vũ Tú, thì trận đó cố sức đánh giặc, vừa bắn vừa chém, giết được 5 tên, mà bản thân lại bị trọng thương; Có viên quyền quản là Phạm Văn Xiển cung khai xác thực, thì tên Vũ Tú được chước lượng giảm tội, chỉ cách chức lưu lại quan để chờ sau ngày bình phục xem xét so sánh lại. Còn như việc không thân sức kịp thời nhuê tỉnh thần Lê Hữu Thường ; Phiên ty và Niết ty tỉnh đó là bọn Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Tạo là phải trị tội. Nhưng xét ra, bọn các viên này theo hồ sơ cũ thì đã bị giáng bốn bậc lưu chức rồi, nay cũng nên xét lượng mà khoan miễn cho phần nào, nhưng phải tâu xin ý chỉ rồi mới tuân hành. (Chỗ này được châu phê chấm chuẩn cho). Đến các nhân viên , bi chức bị chết trận, trừ tên Phạm Căng Thoả (đương bộ can điều tra giám sát) là không bàn đến; còn việc các viên chức, cai đội, cấm binh.... như phó lĩnh binh Hoàng Văn Chữ, cai đội thí sai đội sáu Hứa Dương Văn Hoài; Cai đội sáu cơ Tiền Nhuệ Trần Đạt ; Cai đôi mười cơ Tả Nhuệ Lê Cảnh Hàm; Nguyên là Giáo thụ phủ đó , lại kiêm nhiếp biện công vụ trong phủ Nguyễn Hữu Quân, đều là những người có trách nhiệm giữ thành; khi giặc công bức thành, bọn này đều xông mình lên trước ba quân, lên mặt thành chống đánh giặc cho đến khi thành mất, thân bị giặc giết. Như Nguyễn Hữu Quân là viên quan văn , thế mà cũng đề kiếm xông ra chiến đấu; bị giặc bắt được còn lớn tiếng mắng giặc cho đến khi chúng giết, em y là Bốn cũng bị giặc giết chết; Đều là những kẻ lâm trận biết quên mình, tình thật đáng thương . Xin chiểu lệ mà tuất cấp cho các viên chức sĩ quan  binh lính đó. (Chỗ này được châu phê rằng: "Chuẩn cho xét viên nào, tên nào, là người tỉnh nào, xuất thân chức ngạch gì, thì cho khâm theo thi hành). Vâng xét trong lệ có chép về tuất cấp gia tặng cho việc bị chết tại trận là....". Các thân biền nếu thuộc hàm thực thì truy tặng 2 bậc ; các thi sai, thực sự cũng truy tặng như thực thụ, và gia tăng 2 bậc; Các binh đinh (là lính thường) truy tặng là đội trưởng; Dân dũng, đầu mục truy tặng là chánh bát phẩm bá hộ; Chánh và tòng lục phẩm trở xuống thì đều nhiêu trừ cho 1 người là con, em hoặc cháu suốt đời không phải phu, lính, tạp dịch. Tất cả các hạng ngạch trên đều được truy tặng phẩm hàm và cấp tiền tuất, để an ủi hương hồn người bỏ mạng chốn suối vàng. Vậy viên cai đội (chánh ngũ phẩm) phó lãnh binh cấm binh Hoàng Văn Chữ, thì xin tặng là Quản Cơ (Chánh Tứ Phẩm); Suất đội đội trưởng đội tinh binh, thứ sai là cai đội Dương Văn Hoài thì xin truy tặng là cai đội thực thụ (tòng ngũ phẩm) và gia tặng cho là phó Quản Cơ (tòng tứ phẩm); Cai đội (tòng ngũ phẩm) như Trần Đạt và Lê Cảnh Hoàn thì đều xin truy tặng là phó Quản Cơ (tòng tứ phẩm). Và đều xin tặng hàm cấp tiền tuất, cùng ấm thụ cho 1 người là con, em hoặc cháu của họ là chánh cửu phẩm bá hộ. (Chỗ này được châu phê là” Các hàm, chức đã kể, vẫn còn sơ lược nhưng chuẩn y cho như vậy). Còn như: Nguyễn Hữu Quân, nguyên lĩnh chức Giáo thụ quyền nhiếp biện công việc phủ Nam Sách, thì xin truy tặng ngạch thực thụ và xin gia tặng chức của Hàn Lâm viện (chánh lục phẩm) - (Chỗ này được châu phê là: “ Gia tặng chức Hàn Lâm viện thị giảng và ấm thụ cho 1 người con làm tòng cửu phẩm, cùng chiểu lệ cấp tiền tuất) - Còn như ngũ trưởng đội 9 của cơ Trung Nhuệ là Lê Văn Lượng thì xin truy tặng là đội trưởng tinh binh; Quyền cấp chánh cửu phẩm bá hộ, quyền suất đội đội 3 cơ Lâm Dũng và Phạm Huy Quỳnh thì xin truy tặng chánh bát phẩm bá hộ; Các dũng binh đội 2 là Lê Đình Mại, đội 6 là Nguyễn Văn Trạch lệ binh là Trần Đình Sâm, thông lại là Nguyễn Tất Khắc; đều xin truy tặng chánh cửu phẩm bá hộ; Các nhân viên trên đây đều xin chiểu lệ tặng cấp tiền tuất và nhiêu trừ cho họ 1 người con, em hoặc cháu được miễn sưu dịch suốt đời. Nguyên em Nguyễn Hữu Quân là Nguyễn Văn Bốn, em Thông lại Nguyễn Tất Khắc là Nguyễn Danh Kiên, bọn này vì theo anh ra phủ đệ mà bị giặc giết chết thật cũng đáng thương. Xin tham khảo chiểu lệ theo lệ dân dũng bị giặc giết mà truy tặng cho là chánh cửu phẩm bá hộ và tặng cấp tiền tuất nhưng lược bỏ việc nhiêu trừ cho một người con , em hoặc cháu, để tỏ sự thể tất của triều đình. Ngoài ra các binh lính bị thương thì xin cấp tiền thương tật; tản lạc thì sức tuyển điền thế cho đủ số; các tên tù (25 tên gồm nam nữ) thoát mất, thì sai sai lệnh truy nã ; các vũ khí, khí tài, quân nhu, lương thực bị mất,  Các hồ sơ công văn chỉ thị án kiện ... thì sẽ do tỉnh đó sao lục lại, phủ nha đó phải xét đối chiếu cho thoả hợp rồi xin duyệt y; Duy chỉ có một bộ quan luật (luật công dụng) cũng bị mất trong trận ấy  thì xin  bộ hình chiểu lệ cho in ấn phát cho nha đó lĩnh về để căn cứ mà dùng.
              Dám xin ý chỉ soi lời tâu của bầy bản Bộ những ý kiến nghị bàn; Xin chép theo nguyên ý; bản Bộ lưu giữ 1 bản để làm lưu chiểu. Thần kính cẩn trình bày vâng dâng.
         Tò trình của cai tổng mạn đê là: Đặng Văn Lương về việc chôn cất di hài của tri phủ phủ Nam sách là Nguyễn Hữu Quân
              Tôi, Đặng Văn Lương, là cai tổng tổng Mạn Đê, thuộc huyện Thanh Lâm, Phủ Nam Sách, kính trình với bà chính thất của quan tri phủ Nam Sách xét rõ cho việc như sau:
              Nguyên ngày 26 tháng giêng năm nay, phủ này bị giặc bể vào công phá cướp thủ thành, tôn ông là quan tri phủ của phủ chống nhau với giặc bị chết tại trận. Di hài nằm tại trong phủ. Nay tôi nghĩ là: Người vì con dân mà hết lòng, vì nhiệm vụ mà xông pha, nên bị như vậy rất là thương xót. Cho nên đến nửa đêm ngày 26 tôi đem anh em tuần phiên và người nhà lần vào phủ tìm kiếm thì quả nhiên thấy thi hài của Người, bèn đem về địa phận xã tôi; Nhưng ngặt vì lúc đó thế giặc đương hăng, khó mua kiếm được quan quách sơn son, cho nên đành tạm quyền biến kiếm vải thô ván xấu để mai táng Người. Nhưng cũng làm đủ thủ tục lễ táng chung . Đầu này hôm sau, lai đem di hài của người nhà của Người tên là Bốn cũng bị chết trong phủ, về chôn cất và đều đắp nấm vun mồ đánh dấu cẩn thận rõ ràng và có làm biên bản gửi bẩm tỉnh hẳn hoi. Cho đến vào một ngày thuộc tháng 2 chợt có một người xưng là đệ tử của quan phủ, tên là bá hộ Nhã đến phủ để hỏi thăm tình hình. Việc này tôi đã có viết tờ trình gửi về huyện đường huyện Đông Sơn soi xét, tưởng rằng đã báo rõ ràng rồi. Đến ngày 8 tháng 4 lại thấy có mấy người nhà của ngài tên là Tâm, Chí và cháu của người ra thăm hỏi viếng mộ; Tôi có đưa ra viếng và cho đắp sửa lại các phần mộ cho được trang trọng hẳn hoi;
              Tôi nghĩ rằng: ai là không có tấm lòng báo đáp nghĩa ơn, nhưng quan sơ muôn dặm trở ngại xa xôi; Nay tôi khẩn thiết xin rằng : Người là người đi ngàn dặm để chăn dân, dân cũng phải coi người là vị tôn thân kính trọng. Xin để Người được yên nghĩ tại nơi đây trong hai, ba năm; cho dân ở đây được gìn giữ cấn thận không trở ngại điều chi. Đợi sau đó sạch sẽ, sẽ đón hài cốt của Người về nơi nguyên quán, thì lòng dân chúng tôi mới được yên vậy.
              Nay kính trình
              Ngày 09 tháng 4 năm Tự Đức thứ 25 (1872)

              Cai tổng Đặng Văn Lương

    TỜ SẮC CỦA VUA THÀNH THÁI (phong tập ấm cho cụ Nguyễn Hữu Đệ, con trai cụ Nguyễn Hữu Quân)

    Sắc Nguyễn Hữu Đệ, quán Quảng Nam tỉnh, Điện Bàn phủ, Duy xuyên huyện, Phú Mỹ tổng, Phúc An thôn, Nãi quyền nhiếp Nam Sách phủ tri phủ trận vong truy tặng Thị giảng, cố Nguyễn Hữu Quân - Chi trưởng tử. Niên dĩ trưởng thành, khả kham thừa ấm. Tư lễ bộ thần đề thỉnh: Chuẩn nhĩ ấm thụ Hàn Lâm viện Đãi chiếu. Khâm tại !.
              Thành Thái lục niên, ngũ nguyệt, nhị thập bát nhật.
    Dịch nghĩa:
              Sắc cho Nguyễn Hữu Đệ quê ở thôn Phúc An, Tổng Phú Mỹ, huyện Duy Xuyên, Phủ Điện Bàn , là con trai lớn của Nguyễn Hữu Quân (đã quá cố) làm quyền nhiếp chức Tri phủ Nam Sách, bị chết trận, được truy tặng chức Thị giảng. Nay bầy tôi bộ Lễ thỉnh tâu xin; Vậy chuẩn cho nhà ngươi được ấm thụ chức Hàn Lâm viện Đãi chiếu.
    Kính vâng thay!

    Ngày 28 tháng 5 năm Thành Thái thứ sáu (1894)

    TỜ CHẾ CỦA VUA TỰ ĐỨC (tưởng thưởng công lao và truy tặng cụ Nguyễn Hữu Quân)

    Thừa thiên hưng vận, Hoàng đế chế viết: Trẫm duy, Chí sỹ lâm nguy chi tiết, chí tử bất di; Triều đình tinh thiện chi vương, vi lai giả khuyến. Cóc thần đảm hiệp, chi bật khổng dương. Tư nhĩ lĩnh Giáo thụ nhiếp biện Nam Sách phủ vụ, cố Nguyễn Hữu Quân. Tảo liệt nho khoa; xuất tự quận bác. Khắc thi hữu chính, tạm phân thiên lý chi phu. Vô khoáng quyết quan, tư tận nhất nhật chi trách. Khoảnh nhân cuồng khấu, xuẩn tự đông giao. Ngã phạt dụng trương, độc phấn tiêm cưu chi chí, Cô thành nan thủ, cự khuynh hứa quốc chi thân. ký kiệt lực ư đương vi, diệc lâm nàn nhi bất cẩu. Tinh trung khả tưởng. Tặng điển nghi gia. Tư đặc truy dữ nhĩ thực thụ Giáo thụ, tái gia tặng phụng Thành đại phu, Hàn lâm viện thị giảng, thuy Đoan Thận. Tích chi cáo mệnh ử hư! Ba cổn du vinh, thương dư chiêm vu nhất tử, Sơn hà chính khí, tương khả tác hồ cửu nguyên.Minh mịch hữu tri, chỉ thừa vô dịch. Khâm tai!
              Tự đức nhị thập ngũ niên, thất nguyệt nhị thập ngũ nhật.
              Dịch nghĩa
              Vâng mệnh trời dấy vận. Đức vua ban lời chế rằng: Trẫm nghĩ: Cái khí tiết của người chí sĩ, lúc lâm nguy dẫu chết chẳng đổi đời; sự biểu dương khen ngợi của triều đình , là còn để khuyến khích cho tương lai mãi mãi. Ngày lành hợp ý ngỏ lòng thương xót công lao.
    Ôi ! nhà ngươi là chức Giáo thụ, lại nhiếp biện các công vụ của phủ Nam sách là Nguyễn Hữu Quân đã quá cố : Người sớm dự vào hàng nho khoa , được ra làm việc nơi quận huyện. Biết đem chính sự thi hành, khi được tạm nhận lệnh ngoài ngàn dặm . Không trễ nãi việc quan, biết hết sức mình trong những ngày trách nhiệm. Bỗng vì giặc quấy mạn Đông, Một mình phấn đấu chí diệt thù; song thành cô đơn khó chống giữ nên bỏ nhẹ tấm thân vì nước . Đã hết sức trong phần trách nhiệm; lại dốc lòng khi gặp nguy nan. Lòng trung đó đáng khen, mà sự khen nên thật xứng.
    Nay đặc truy tặng cho nhà ngươi thực thụ chức Giáo thụ và gia tặng  là Phụng thành Đại phu, Hàn lâm viện Thị giảng; thuy là Đoan Thận để làm cáo mệnh.
    Ôi! Cái đẹp, cái vẻ vang đó còn để lại cho đời con được hưởng; mà chính khí của non sông còn tác động tới chốn suối vàng. Nơi mờ mịt có thấu chăng? Hãy ráng nhận cho thoả đáng.
    Kính vâng thay!

    Ngày 25 tháng 7 năm Tự Đức thứ 25 (1872 )

    TỜ SẮC CỦA VUA TỰ ĐỨC (bổ nhiệm cụ Nguyễn Hữu Quân đi làm giáo thụ)


              Sắc tại quán Cử nhân Nguyễn Hữu Quân, quán Quảng Nam tỉnh, Điện Bàn phủ, Duy Xuyên huyện, Phú Mỹ tổng, Phúc An thôn. Khoa mục xuất thân; hội thí dự hữu phân số. Tư Lại bộ thanh thỉnh dụ để. Chuẩn nhĩ bổ thụ huấn đạo lĩnh Quảng Trạch phủ giáo thụ. Phàm giảng tập khảo hạch chư công vụ lệ phụng hành. Nhược quyết chức phất tu, minh chương dụ tại. Khâm tai !
              Tự đức nhị thập nhất niên lục nguyệt sơ tứ nhật.
              Dịch nghĩa:
              Sắc cho Cử nhân Nguyễn Hữu Quân quê ở thôn Phúc An, tổng Phú Mỹ, huyện Duy Xuyên, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; là cử nhân ở lại quê, xuất thân khoa mục, thi hội bài có dự vào phân số điểm. Nay do bộ Lại đề tấu và xin bổ; Vậy chuẩn cho nhà ngươi vào ngạch Huấn đạo, làm chức giáo thụ phủ Quảng Trạch. Phàm các công vụ về giảng tập khảo hạch, nên tuân luật lệ mà phụng hành. Nếu không làm tròn chức năng trách nhiệm, sẽ chịu luật pháp rõ ràng đầy đủ.
    Kính vâng thay!
    Ngày 04 tháng 6 năm Tự đức thứ 21 (1868)

    TÓM TẮT TIỂU SỬ CỬ NHÂN NGUYỄN HỮU QUÂN

    Cử nhân Nguyễn Hữu Quân (1836 - 1872)

              Cụ Nguyễn Hữu Quân tự bạch là Trúc Hiên, người thôn Phúc An ( thường gọi là Phước Yên), tổng Phú Mỹ, huyện Duy Xuyên, phủ Điện Bàn, nay là thôn Phước Yên, xã Đại An, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam.
              Thân sinh cụ là Nguyễn Hữu Phước - một nhà nho nghèo, có cuộc sống thanh bạch được nhân dân quanh vùng quý mến. Anh trai là Nguyễn Hữu Khát, sáu lần thi đều đỗ tú tài. Xuất thân trong một gia đình có truyền thống hiếu học và nề nếp, việc học hành, thi cử của Cụ Nguyễn Hữu Quân được gia đình rất chú trọng. Cụ Nguyễn Hữu Quân đỗ cử nhân khoa Đinh mão trường Thừa Thiên, năm Tự Đức thứ 20 (1867); năm sau dự khoa thi Hội, bài có dự vào phân số điểm.
              Sau khi đỗ cử nhân, ngày 04 tháng 6 năm Tự Đức 21 ( 1968 ), Cụ được Bộ Lại đề tấu Tự Đức phê chuẩn vào ngạch Huấn Đạo, làm Giáo Thụ phủ Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Thời gian sau đó,  gia đình có đại tang cụ về thọ tang, khi mãn tang đổi lĩnh Giáo thụ phủ Nam Sách tỉnh Hải Dương, đồng thời giữ chức quyền Nhiếp phủ vụ Nam Sách. Lúc bấy gìơ, tại các phủ huyện miền đông Bắc Bộ, bọn giặc cướp Tàu Ô thường hay quấy nhiễu trên biển, trên bộ, Chính quyền vùng này đã nhiều lần tập trung lực lượng dẹp loạn, gây cho chúng nhiều tổn thất, thế nhưng với bản chất hung tàn và ngang ngược, lại dựa vào lực lượng đông, có nhiều vũ khí, bọn giặc không chịu từ bỏ dã tâm càn quấy, cướp của, giết người, khiến cho nhân dân quanh vùng hoang mang ,lo sợ.
              Vào đêm 26 tháng 01 năm Tự Đức thứ 25 ( 1872 ), giặc Tàu Ô dùng hơn 90 chiếc thuyền cướp phá phủ thành Nam Sách, cụ Nguyễn Hữu Quân đã chỉ huy binh lính giữ thành, đánh trả quyết liệt. Về việc này, trong tờ tấu của bộ binh gửi triều  đình Huế có viết: “....Trong trận này, quân ta chỉ vẻn vẹn có hơn 600 mà quá nữa là quân mộ dũng chứ không phải phiên chế cơ đội chính quy. Về số quân giặc thì đông hơn gấp đôi. Mặc dù, đã hết sức chống cự, thương vong nhiều, chứ không phải không hết lòng chiến đấu cố thủ, nhưng vì chênh lệch về số quân quá lớn nên không thể địch lại bọn giặc để đến nỗi thất thủ phủ thành
              Cụ Nguyễn Hữu Quân bị sa vào tay giặc, với khí tiết khẳng khái của viên quan văn, cụ đã lớn tiến mắng chửi quân giặc cho đến khi bị chúng giết. Cũng trong tờ tấu của Bộ binh với triều đình về việc thất thủ phủ Nam Sách, và xin chuẩn y sự quyết định xử trí của bộ trong việc này, có đoạn:
              “....Còn các viên chức, cai đội, cấm binh...như phó lãnh binh Hoàng Văn Chữ, cai đội thí sai đội sáu cơ Tiền Nhuệ là Trần Đạt, cai đội đôi mười cơ Tả Nhuệ là Lê Cảnh Hàm; Nguyên Giáo Thụ phủ đó, lại kiêm nhiếp biện công vụ trong phủ - Nguyễn Hữu Quân đều là những người có trách nhiệm giữ thành; khi giặc vây bức thành, bọn này đều xông mình lên trước ba quân, lên mặt thành chống đánh giặc cho đến khi thành mất, thân bị giặc giết. Nguyễn Hữu Quân là viên quan văn, thế mà cũng đồ kiếm xông ra chiến đấu; bị giặc bắt được còn lớn tiếng mắng giặc cho đến khi chúng giết ; em y là Bốn cũng bị giặc giết chết. Họ đều là những kẻ lâm trận biết quên mình, tình thật đáng thương. xin chiếu lệ mà tuất cấp cho các viên chức sĩ quan binh lính đó....
              Trên cơ sở tờ tấu của Bộ Binh, vua Tự Đức đã có tờ Chế ghi ngày 25 tháng 7 năm Tự Đức thứ 25 ( 1872 ), truy tặng cụ thực thụ chức Giáo thụ và gia tặng là “ Phụng Thành Đại Phu, Hàn Lâm Viện Thị Giảng “, tên thuy là “ Đoan Thận “, được liệt thờ vào Trung Nghĩa Từ tại Kinh đô Huế
              Với sự giúp đỡ của Bộ Lễ triều đình vua Tự Đức và quan chức các địa phương, hài cốt của cụ Nguyễn Hữu Quân được cụ bà (phu nhân của cử nhân Nguyễn Hữu Quân) là Phan Thị Tú đưa từ Nam Sách, Hải Dương về chôn tại quê nhà. Hiện nay phần mộ của hai cụ Nguyễn Hữu Quân và Phan Thị Tú được cải táng tại làng Hóa Phú, xã Đại An, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam.
              Ngày 28 tháng 5 năm Thành Thái thứ sáu ( 1894 ), nhà vua ban Sắc cho ông Nguyễn Hữu Đệ là con trai duy nhất của cụ Nguyễn Hữu Quân đã đủ tuổi trưởng thành được ấm thị hàm Hàn Lâm Viện Đãi Chiếu.


              Hiện nay tại Đền tưởng niệm Trường An thuộc xã Đại Nghĩa huyện Đại Lộc ( trên Núi Lở ) có dựng bia cử nhân Nguyễn Hữu Quân và cụ tú tài Nguyễn Hữu Khát.