Thừa thiên hưng vận, Hoàng đế chế
viết: Trẫm duy, Chí sỹ lâm nguy chi tiết, chí tử bất di; Triều đình tinh thiện
chi vương, vi lai giả khuyến. Cóc thần đảm hiệp, chi bật khổng dương. Tư nhĩ
lĩnh Giáo thụ nhiếp biện Nam Sách phủ vụ, cố Nguyễn Hữu Quân. Tảo liệt nho
khoa; xuất tự quận bác. Khắc thi hữu chính, tạm phân thiên lý chi phu. Vô
khoáng quyết quan, tư tận nhất nhật chi trách. Khoảnh nhân cuồng khấu, xuẩn tự đông
giao. Ngã phạt dụng trương, độc phấn tiêm cưu chi chí, Cô thành nan thủ, cự
khuynh hứa quốc chi thân. ký kiệt lực ư đương vi, diệc lâm nàn nhi bất cẩu.
Tinh trung khả tưởng. Tặng điển nghi gia. Tư đặc truy dữ nhĩ thực thụ Giáo thụ,
tái gia tặng phụng Thành đại phu, Hàn lâm viện thị giảng, thuy Đoan Thận. Tích
chi cáo mệnh ử hư! Ba cổn du vinh, thương dư chiêm vu nhất tử, Sơn hà chính
khí, tương khả tác hồ cửu nguyên.Minh mịch hữu tri, chỉ thừa vô dịch. Khâm tai!
Tự
đức nhị thập ngũ niên, thất nguyệt nhị thập ngũ nhật.
Dịch nghĩa
Vâng
mệnh trời dấy vận. Đức vua ban lời chế rằng: Trẫm nghĩ: Cái khí tiết của người
chí sĩ, lúc lâm nguy dẫu chết chẳng đổi đời; sự biểu dương khen ngợi của triều đình
, là còn để khuyến khích cho tương lai mãi mãi. Ngày lành hợp ý ngỏ lòng thương
xót công lao.
Ôi ! nhà ngươi
là chức Giáo thụ, lại nhiếp biện các công vụ của phủ Nam sách là Nguyễn Hữu
Quân đã quá cố : Người sớm dự vào hàng nho khoa , được ra làm việc nơi quận huyện.
Biết đem chính sự thi hành, khi được tạm nhận lệnh ngoài ngàn dặm . Không trễ
nãi việc quan, biết hết sức mình trong những ngày trách nhiệm. Bỗng vì giặc
quấy mạn Đông, Một mình phấn đấu chí diệt thù; song thành cô đơn khó chống giữ
nên bỏ nhẹ tấm thân vì nước . Đã hết sức trong phần trách nhiệm; lại dốc lòng
khi gặp nguy nan. Lòng trung đó đáng khen, mà sự khen nên thật xứng.
Nay đặc truy
tặng cho nhà ngươi thực thụ chức Giáo thụ và gia tặng là Phụng
thành Đại phu, Hàn lâm viện Thị giảng; thuy là Đoan Thận để làm cáo mệnh.
Ôi! Cái đẹp,
cái vẻ vang đó còn để lại cho đời con được hưởng; mà chính khí của non sông còn
tác động tới chốn suối vàng. Nơi mờ mịt có thấu chăng? Hãy ráng nhận cho thoả đáng.
Kính vâng
thay!
Ngày 25 tháng 7 năm Tự
Đức thứ 25 (1872 )
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét