Ngày
25 tháng 7 năm Tự Đức thứ 25 (1872), Bộ binh cẩn tâu:
Vào
một ngày tháng 5 năm nay, bản Bộ tiếp được tờ tâu của bầy tôi tỉnh Hải Dương là
Lê Hữu Thương tấu trình về việc đã xét rõ nguyên do việc phủ thành Phủ Nam Sách
bị thất thủ và xin tra xét quyết định. Về việc này, ngày tháng 2 năm nay bản Bộ
đã đem tờ khai tình hình thất thủ phủ thành đó của Lê Tuấn là thị sự của tỉnh đó
về lý do và con số tổn thất, chết, bị thương bao nhiêu, có tỉnh xét rỏ để đặc
tâu mong chỉ chuẩn y. Nay xét trong tập hồ sơ tâu lên ấy thì hôm đó là ngày 26
tháng giêng, bọn giặc đi bằng thuyền (số thuyền là hơn 90 chiếc) vào giang phận
của phủ này rồi tiến lên công phá thủ thành; quân giặc có tới hơn 1.300 tên, mà
quân giữ phủ, kể các loại binh dũng và phụ phái chỉ có hơn 600 quân (trong đó
quân của tỉnh phái về hơn 400, quân mộ dũng phụ là hơn 200). Hiện có chống giữ
quyết liệt, nhưng vì quân ta ít, quân địch nhiều nên không thể giữ nổi phải bị
thất thủ phủ thành, bị chết 14; bị thương 13 (trong đó bị thương nặng 8 và nhẹ
5); tan tác thất lạc 115. Về khí giới bị mất: 3 súng Tích sơn, 5 súng quá sơn,
4 đại bác, 4 thần công, 2 thảo nghịch tướng quân, 5 thần công, 38 súng trường
Bắc cơ ô sang, và các phụ tùng phụ kiện; 3360 viên đạn; 460 cân 9 lạng thuốc
súng; 136 ống phun lửa. Về lương thực tiền bạc: Tiền nguyên dự trữ là 742 quan
tiền thuế, thóc nghĩa lương 875 hộc, gạo thuế: 998 phương, thóc thuế 492 hộc,
muối 6 phương. Về văn thư, hồ sơ, luật lệ: Các điều huấn thị và địa bạ của xã
55 bản. Tất cả đề bị cướp đi và đốt sạch. Bọn ở trại tù cũng nhân thế mà trốn (cả thẩy có: tù về quân lực 1 tên, tù đày 1 tên, tù thành án giam 1 tên, tù còn đương
tra xét 25 tên gồm cả nam, nữ).
Sự
việc này, cứ theo như luật, lấy luật quân chính mà luận tội thì khó tránh khỉ
tội. Song, xét trong trận này, quân ta chỉ vẻn vẹn có hơn 600 mà quá nửa là
quân mộ dũng chứ không phải biên chế cơ đội chính quy. Về số quân giặc thì đông
hơn gấp đôi. Mặc dù đã hết sức chống cự, thương vong nhiều, chứ không phải đem
lòng chiến đấu cố thủ; nhưng vì sự chênh lệch về quân số quá lớn nên không thể địch
lại được bọn giặc để đến nỗi thất thủ thành. Chứng minh việc này, còn có tờ
khai của quan tỉnh đó về những người trong quân ngũ của tỉnh được phái về trú
thủ phủ thành đó, trong khi chiến đấu bị thua chạy thoát về tỉnh là: Vũ Văn Thiện là quyền xung hiệp
quản lý vệ thứ 2 của Hứa Dương bị trọng thương; Trần Quang Cáp, Nguyễn Đăng
Thảo là cai đội; Lương Khắc Hiển, Lê Bá là suất đội của vệ binh đó. Cả 5 tên
này đều cách chức giao cho tỉnh so luật định đoạt. Còn các tên: Quyền suất đội
cấp bằng đôi trưởng Nguyễn Văn Lãnh ở vệ thứ hai của Vũ sinh kinh kỳ, quyền
suất đội Bùi Hữu Hoằng ở đội một cơ Linh Dũng, quyền suất đội Trần đình Thức ở đội
sáu cơ Lâm Dũng; xét rằng bọn này chưa có bằng hàm thực thụ nên xin phạt mỗi
tên 100 trượng đánh đau. Nguyễn Văn Lãnh thì tước bỏ hàm cấp bằng đội trưởng và
đuổi xuống quân ngũ làm lính thường. Bùi Hữu Hoằng và Trần Đình Thức thì tước
bỏ hàm quyền suất đội , đuổi về quê quán làm dân thường, chịu phu dịch. Việc
phân xử chước lượng như vậy tưởng cũng là thoả đáng hợp lý. Duy có tên tự suất đội
sáu cơ Tản Kiên là Vũ Tú, thì trận đó cố sức đánh giặc, vừa bắn vừa chém, giết được
5 tên, mà bản thân lại bị trọng thương; Có viên quyền quản là Phạm Văn Xiển
cung khai xác thực, thì tên Vũ Tú được chước lượng giảm tội, chỉ cách chức lưu
lại quan để chờ sau ngày bình phục xem xét so sánh lại. Còn như việc không thân
sức kịp thời nhuê tỉnh thần Lê Hữu Thường ; Phiên ty và Niết ty tỉnh đó là bọn
Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Tạo là phải trị tội. Nhưng xét ra, bọn các viên này
theo hồ sơ cũ thì đã bị giáng bốn bậc lưu chức rồi, nay cũng nên xét lượng mà
khoan miễn cho phần nào, nhưng phải tâu xin ý chỉ rồi mới tuân hành. (Chỗ này được
châu phê chấm chuẩn cho). Đến các nhân viên , bi chức bị chết trận, trừ tên
Phạm Căng Thoả (đương bộ can điều tra giám sát) là không bàn đến; còn việc
các viên chức, cai đội, cấm binh.... như phó lĩnh binh Hoàng Văn Chữ, cai đội
thí sai đội sáu Hứa Dương Văn Hoài; Cai đội sáu cơ Tiền Nhuệ Trần Đạt ; Cai đôi
mười cơ Tả Nhuệ Lê Cảnh Hàm; Nguyên là Giáo thụ phủ đó , lại kiêm nhiếp biện
công vụ trong phủ Nguyễn Hữu Quân, đều là những người có trách nhiệm giữ thành;
khi giặc công bức thành, bọn này đều xông mình lên trước ba quân, lên mặt thành
chống đánh giặc cho đến khi thành mất, thân bị giặc giết. Như Nguyễn Hữu Quân
là viên quan văn , thế mà cũng đề kiếm xông ra chiến đấu; bị giặc bắt được còn
lớn tiếng mắng giặc cho đến khi chúng giết, em y là Bốn cũng bị giặc giết chết;
Đều là những kẻ lâm trận biết quên mình, tình thật đáng thương . Xin chiểu lệ
mà tuất cấp cho các viên chức sĩ quan
binh lính đó. (Chỗ này được châu phê rằng: "Chuẩn cho xét viên nào, tên
nào, là người tỉnh nào, xuất thân chức ngạch gì, thì cho khâm theo thi hành).
Vâng xét trong lệ có chép về tuất cấp gia tặng cho việc bị chết tại trận
là....". Các thân biền nếu thuộc hàm thực thì truy tặng 2 bậc ; các thi sai, thực
sự cũng truy tặng như thực thụ, và gia tăng 2 bậc; Các binh đinh (là lính thường)
truy tặng là đội trưởng; Dân dũng, đầu mục truy tặng là chánh bát phẩm bá hộ;
Chánh và tòng lục phẩm trở xuống thì đều nhiêu trừ cho 1 người là con, em hoặc
cháu suốt đời không phải phu, lính, tạp dịch. Tất cả các hạng ngạch trên đều được
truy tặng phẩm hàm và cấp tiền tuất, để an ủi hương hồn người bỏ mạng chốn suối
vàng. Vậy viên cai đội (chánh ngũ phẩm) phó lãnh binh cấm binh Hoàng Văn Chữ,
thì xin tặng là Quản Cơ (Chánh Tứ Phẩm); Suất đội đội trưởng đội tinh binh,
thứ sai là cai đội Dương Văn Hoài thì xin truy tặng là cai đội thực thụ (tòng
ngũ phẩm) và gia tặng cho là phó Quản Cơ (tòng tứ phẩm); Cai đội (tòng ngũ
phẩm) như Trần Đạt và Lê Cảnh Hoàn thì đều xin truy tặng là phó Quản Cơ (tòng
tứ phẩm). Và đều xin tặng hàm cấp tiền tuất, cùng ấm thụ cho 1 người là con, em
hoặc cháu của họ là chánh cửu phẩm bá hộ. (Chỗ này được châu phê là” Các hàm,
chức đã kể, vẫn còn sơ lược nhưng chuẩn y cho như vậy). Còn như: Nguyễn Hữu Quân, nguyên lĩnh chức Giáo thụ
quyền nhiếp biện công việc phủ Nam Sách, thì xin truy tặng ngạch thực thụ và
xin gia tặng chức của Hàn Lâm viện (chánh lục phẩm) - (Chỗ này được châu phê là: “ Gia tặng chức Hàn Lâm viện thị giảng và ấm
thụ cho 1 người con làm tòng cửu phẩm, cùng chiểu lệ cấp tiền tuất) - Còn
như ngũ trưởng đội 9 của cơ Trung Nhuệ là Lê Văn Lượng thì xin truy tặng là đội
trưởng tinh binh; Quyền cấp chánh cửu phẩm bá hộ, quyền suất đội đội 3 cơ Lâm
Dũng và Phạm Huy Quỳnh thì xin truy tặng chánh bát phẩm bá hộ; Các dũng binh đội
2 là Lê Đình Mại, đội 6 là Nguyễn Văn Trạch lệ binh là Trần Đình Sâm, thông lại
là Nguyễn Tất Khắc; đều xin truy tặng chánh cửu phẩm bá hộ; Các nhân viên trên đây
đều xin chiểu lệ tặng cấp tiền tuất và nhiêu trừ cho họ 1 người con, em hoặc
cháu được miễn sưu dịch suốt đời. Nguyên em Nguyễn Hữu Quân là Nguyễn Văn Bốn,
em Thông lại Nguyễn Tất Khắc là Nguyễn Danh Kiên, bọn này vì theo anh ra phủ đệ
mà bị giặc giết chết thật cũng đáng thương. Xin tham khảo chiểu lệ theo lệ dân
dũng bị giặc giết mà truy tặng cho là chánh cửu phẩm bá hộ và tặng cấp tiền
tuất nhưng lược bỏ việc nhiêu trừ cho một người con , em hoặc cháu, để tỏ sự
thể tất của triều đình. Ngoài ra các binh lính bị thương thì xin cấp tiền thương
tật; tản lạc thì sức tuyển điền thế cho đủ số; các tên tù (25 tên gồm nam nữ)
thoát mất, thì sai sai lệnh truy nã ; các vũ khí, khí tài, quân nhu, lương thực
bị mất, Các hồ sơ công văn chỉ thị án
kiện ... thì sẽ do tỉnh đó sao lục lại, phủ nha đó phải xét đối chiếu cho thoả
hợp rồi xin duyệt y; Duy chỉ có một bộ quan luật (luật công dụng) cũng bị mất
trong trận ấy thì xin bộ hình chiểu lệ cho in ấn phát cho nha đó
lĩnh về để căn cứ mà dùng.
Dám
xin ý chỉ soi lời tâu của bầy bản Bộ những ý kiến nghị bàn; Xin chép theo
nguyên ý; bản Bộ lưu giữ 1 bản để làm lưu chiểu. Thần kính cẩn trình bày vâng
dâng.
Tò trình của cai tổng mạn đê là: Đặng
Văn Lương về việc chôn cất di hài của tri phủ phủ Nam sách là Nguyễn Hữu Quân
Tôi, Đặng Văn Lương, là cai tổng tổng
Mạn Đê, thuộc huyện Thanh Lâm, Phủ Nam Sách, kính trình với bà chính thất của
quan tri phủ Nam Sách xét rõ cho việc như sau:
Nguyên
ngày 26 tháng giêng năm nay, phủ này bị giặc bể vào công phá cướp thủ thành,
tôn ông là quan tri phủ của phủ chống nhau với giặc bị chết tại trận. Di hài
nằm tại trong phủ. Nay tôi nghĩ là: Người vì con dân mà hết lòng, vì nhiệm vụ
mà xông pha, nên bị như vậy rất là thương xót. Cho nên đến nửa đêm ngày 26 tôi đem
anh em tuần phiên và người nhà lần vào phủ tìm kiếm thì quả nhiên thấy thi hài
của Người, bèn đem về địa phận xã tôi; Nhưng ngặt vì lúc đó thế giặc đương hăng,
khó mua kiếm được quan quách sơn son, cho nên đành tạm quyền biến kiếm vải thô
ván xấu để mai táng Người. Nhưng cũng làm đủ thủ tục lễ táng chung . Đầu này hôm
sau, lai đem di hài của người nhà của Người tên là Bốn cũng bị chết trong phủ,
về chôn cất và đều đắp nấm vun mồ đánh dấu cẩn thận rõ ràng và có làm biên bản
gửi bẩm tỉnh hẳn hoi. Cho đến vào một ngày thuộc tháng 2 chợt có một người xưng
là đệ tử của quan phủ, tên là bá hộ Nhã đến phủ để hỏi thăm tình hình. Việc này
tôi đã có viết tờ trình gửi về huyện đường huyện Đông Sơn soi xét, tưởng rằng đã
báo rõ ràng rồi. Đến ngày 8 tháng 4 lại thấy có mấy người nhà của ngài tên là
Tâm, Chí và cháu của người ra thăm hỏi viếng mộ; Tôi có đưa ra viếng và cho đắp
sửa lại các phần mộ cho được trang trọng hẳn hoi;
Tôi
nghĩ rằng: ai là không có tấm lòng báo đáp nghĩa ơn, nhưng quan sơ muôn dặm trở
ngại xa xôi; Nay tôi khẩn thiết xin rằng : Người là người đi ngàn dặm để chăn
dân, dân cũng phải coi người là vị tôn thân kính trọng. Xin để Người được yên
nghĩ tại nơi đây trong hai, ba năm; cho dân ở đây được gìn giữ cấn thận không
trở ngại điều chi. Đợi sau đó sạch sẽ, sẽ đón hài cốt của Người về nơi nguyên
quán, thì lòng dân chúng tôi mới được yên vậy.
Nay
kính trình
Ngày
09 tháng 4 năm Tự Đức thứ 25 (1872)
Cai tổng Đặng Văn Lương
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét